Triễn Lãm Xá Lợi Phật Và Các Vị Thánh Tăng
TRIỂN LÃM XÁ LỢI PHẬT VÀ CÁC Vị THÁNH TĂNG
Toàn bộ những viên Xá Lợi Phật cổ xưa linh hiển và vô cùng hiếm quí sẽ được triểm lãm tại Chùa Linh Sơn.
Xá Lợi của Phật và các vị đại thánh cao tăng thạc đức đã được trân quí tôn thờ từ lúc khởi thủy của nền văn minh nhân loại. Xá Lợi là những thánh thể linh hiển của các bậc đại sư đã đạt được những chứng đắc phi thường trong suốt quãng đời tu hành. Nền tảng của sự chứng đắc là sự huân tu giới luật thanh tịnh và công hạnh xã ly, một tâm thái hoàn toàn đoạn diệt với mọi ái dục thế gian.
Tất cả ngọc xá lợi này đều được thu góp từ nhiều khởi nguồn vô cùng hy hữu và bảo đảm chắc chắn, chẳng hạn như sự thương tặng của đức Ðạt Lai La Ma.
Do nhờ vào tâm tuyệt đối thanh tịnh của các bậc thánh tăng mà từng hạt tựa như các viên ngọc trai lóng lánh đã kết tụ lại gọi là xá lợi.
Thông thường xá lợi được cất giữ và canh chừng rất cẩn mật trong các bảo tháp và điện thờ. Chúng ta phải xin phép mới được chiêm bái vì không ai cũng đủ thiện duyên.
NGUYÊN DO CHƯ PHẬT LƯU LẠI XÁ LỢI
Khi Phật còn trụ thế, chúng sanh thời đó hội đủ thiện duyên để được gần gũi chiêm ngưỡng kim thân của Ngài, đảnh lễ và được trực tiếp thọ nhận những giáo huấn của Phật.
Khi Ðức Phật thị tịch, nhằm lợi lạc chúng sanh, Ðức Phật đã lưu lại xá lợi như những pháp bảo để tất cả hàng hậu sanh đều được trực tiếp chiêm bái, bày tỏ lòng sùng kính bằng những nghi thức cúng dường.
Chính vì lòng đại bi hương xót muôn loài của Ngài mà ngày nay chúng ta đã hội đủ nhân duyên để đảnh lễ toàn thân pháp bảo của Ðức Phật.
CÔNG ÐỨC GÌ KHI ÐƯỢC CHIÊM BÁI
Kinh Phật dạy rằng, chiêm bái và đảnh lễ những xá lợi như thế này tạo được vô lượng công đức thù thắng. Do diệu lực mầu nhiệm của các pháp bảo, ví dụ như ngọc xá lợi chẳng hạn, nên mọi sự cầu nguyện hoặc mọi nghi thức kính tin cúng dường đối với pháp bảo đều tức khắc gây tạo được nhiều thiện duyên an lạc đưa đến giác ngộ giải thoát. Pháp bảo thường dễ dàng tạo nên cơ duyên rất hữu ích cho đời sống tâm linh. Xá lợi quả thật đã mang đến vô số lợi lạc không thể nghĩ bàn đối với những chúng sanh nào hữu duyên được chiêm ngưỡng kính bái. Ðiều này đúng với các tín đồ Phật giáo và ngay cả đối với những nguời khác tín ngưỡng. Vì diệu lực tối thắng của chính pháp bảo tạo nên. Mọi công đức và lợi lạc không tùy thuộc nơi đối tượng chiêm bái, mà tùy thuộc vào lòng kính tin thanh tịnh đối với xá lợi hay không.
VÌ SAO PHẢI KÍNH BÁI XÁ LỢI
Xá lợi là tinh hoa cốt lõi của công hạnh giác ngộ viên mãn. Nền tảng của sự giác ngộ là huân tu trì giới thanh tịnh, chính là tâm tuyệt đối hoàn toàn đoạn diệt mọi ái nhiễm trần thế. Nơi mà mọi xích chuyền luân hồi sanh tử từ vô thỉ, do vô minh chịu ảnh hưởng của rất nhiều phiền não và nghiệp lực.
Những cảm xúc mà chúng ta thường gọi là thú vui chẳng hạn như thỏa mãn dục lạc khác với những an lạc đạt được do thiền định.
Nếu không nhận định rõ ràng thì mọi thú vui ở đời sẽ dường như hoàn toàn tùy thuộc vào những hiện tượng ngoại tại. Tuy nhiên, nếu quán xét chúng thì ta sẽ nhận thức được rằng mọi lạc thú tạo ra từ những xúc giác đều là một loại khổ đau. Loại khổ đau này chỉ giản đơn được tâm thức ta gán cho chúng một nhãn hiệu là ‘ lạc thú ‘để rồi cũng chính tâm ta lại tin sâu vào cái nhãn hiện này. Ðây là một loại khổ đau bởi vì mọi xúc cảm của ta bao gồm những khoái cảm ăn, ngủ, ái dục, tất cả đều không thường còn. Một khi đã ý thức được điều này thì ta sẽ khởi sự phát triển một ý hướng xả ly, đoạn diệt.
Ðối với Phật giáo thì phương pháp để chấm dứt sanh tử luân hồi và mọi loại khổ đau như già nua, tật bệnh, xung khắc tinh thần và hàng tỷ tỷ vấn nạn trong cõi trầm luân này là hãy chấm dứt luân hồi ngay tại nơi đây. Ðể chấm dứt luân hồi ngay tại nơi đây, ta cần phải hoá giải những phiền não trong tâm mình như vô minh, sân hận, tính chấp trước, lòng điên đảo đã từng khởi nguồn từ một nghiệp duyên. Và đó chính là sự vô minh đối với thể tánh chân thật của tự ngã, của ‘ cái tôi ‘. Ta luôn luôn bàn luận rằng; ‘ tôi làm, tôi muốn, vv. Tuy nhiên, hãy tự hỏi, cái gì là tôi? Tôi ở đâu?
Quả thật, rất khó để liễu giải được chân tánh của tự ngã, một thể tánh chân thật rốt ráo của tâm thức nếu bạn không tìm học và cũng không thiền quán.
Chân tâm của cái tôi là gì? Chân tánh này đã được tâm thức gán cho một nhãn hiệu rồi. Nền tảng của nhãn hiệu này chính là sự tổng hợp của thân tâm. Sự tổng hợp này bao gồn, ngũ uẩn của một con người. Thông thường, chúng được gọi là, sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
Lý do duy nhất mà tôi hiện hữu vì ngũ uẩn hiện hữu.
Nếu ta liễu giải tường tận rằng, cái tôi chỉ là một huyển danh thôi, thì cái tôi này sẽ không có khổ đau, cái tôi này sẽ không có nhiều vấn nạn, nhiều lo âu sợ sệt và tất cả mọi vấn đề như vầy.
Ðức Phật đã thuyết giảng về Tứ Thánh Ðế, sự thật về khổ, nguồn gốc của Khổ. Sau đó Ngài dạy rằng chúng sanh có thể thoát khỏi khổ và mọi nguyên nhân gây ra khổ nương nhờ vào con đường diệt khổ. Sau cùng Ngài chỉ bày con đường có thể thật sự giúp chúng ta liễu ngột được sự thật của chính mình, chân tánh rốt ráo của ‘ cái tôi ‘, thế tánh chân thật uyên nguyên của tâm thức hay còn gọi là chân tâm Phật tánh.
Người lưu lại xá lợi là người đã hoàn toàn lìa bỏ, hoàn toàn khước từ ba cảnh giới của vòng luân hồi sanh tử, đó là dục giới ( cõi Ta Bà ), Sắc giới, Vô sắc giới. Tại sao? Vì người này đã liễu ngộ rằng, tất cả ba cảnh giới trên đây vốn mang tính chất khổ đau.
Hơn thế nữa, Bồ đề tâm của họ sẽ quảng khai rộng mở vì chứng kiến cảnh khổ của muôn loài và lòng đại bi sẽ tự nhiên hiện ứng lên trong tâm, để rồi nguyện vọng từ bi cao cả giác ngộ nhằm cứu độ chúng sanh sẽ tự khắc nở hoa. Phương cách duy nhất để thành đạt được điều này là nhờ vào công hạnh tỏ ngộ chân tâm ( của cái tôi ).
Khi chiêm bái xá lợi, tâm ta sẽ được thanh tịnh hoá rất nhiều. Kinh dạy rằng, bạn sẽ tích tạo được nhiều công đức hơn nếu hội đủ duyên lành nhiểu quanh, đảnh lễ cúng dường xá lợi thay vì chỉ đơn giản ngắm nhìn những thánh tích pháp bảo. Lời dạy trên đây áp dụng đồng đẳng đối với sự chiêm bái đảnh lễ xá lợi hay đối với tôn tượng của Phật.
Khi chánh đạo từ bi và phương tiện thiện xảo đã vẹn toàn, chư Phật đạt được viên mãn đại giác và lưu biến rất nhiều xá lợi để mang an vui, lợi lạc và đồng thời giúp chúng ta sớm được giác ngộ. Vì lòng đại bi vô lượng vô biên đối với tất cả chúng sanh.
Xá lợi là thành quả của một trái tim từ ái. Tất cả chúng ta vốn có Phật tánh và vốn có đủ công năng để lưu lại xá lợi
Lama Zopa dạy:
“ Nếu thẩm định và tư duy kỷ càng, bạn sẽ ngộ giải rắng, nếu không nhờ có từ bi tâm, dù bạn có sở hữu được nhiều thế mấy, có tận công gắng sức thế mấy thì bạn vẫn không bao giờ cảm thấy an lạc. Tự đáy lòng sâu thẳm, bạn chẳng được an vui và luôn nghĩ mình còn thiếu thiếu sót, còn chưa đủ có.
Phương pháp tối thượng khiến cuộc đời đượm nhiều ý nghĩa là hãy tinh tấn nhiêu ích chúng sanh và khởi phát đại từ và đại bi tâm đối với chúng sanh. Ðây cũng đồng thời là một phương pháp vô thượng để tìm được an bình, hạnh phúc, tự mãn hài lòng với chính mình”.
XUẤT XỨ CỦA CÁC XÁ LỢI
Ðức Phật Ca Diếp
Là vị Phật thứ ba trong 1, 000 vị Phật của Hiền Kiếp. Ðức Phật thứ nhất là Phật Câu Lưu Tôn, thứ hai là Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật thứ Tư, kế tiếp là Phật Di Lặc. Tất cả vị Phật trong Hiền Kiếp sẽ thành đạo tại Bổ Ðề Ðạo Tràng, khiến nơi đây trở thành một thánh địa vô cùng linh hiển để hành hương chiêm bái.
Phật Ca Diếp, Kasyapa Buddha, dạy:
Tránh làm điều ác
Siêng làm việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Ðây lời Phật dạy.
Viên xá lợi răng to này nguyên được tôn trí bên trong bức tượng của Ngài Gyalwa Ensapa tại một tu viện ở Tây Tạng. Chiếc răng này nguyên là một phần của toàn thân pháp bảo của đức Phật Ca diếp. Tượng này bị phá hủy khi Trung Cộng xâm chiếm Tây Tạng, tuy nhiên có một gia đình Tây Tạng đã bí mật gỡ chiến xá lợi răng ấy ra.
Khi gia đình có người bệnh, họ thường mài một phần của viên xá lợi răng thành bột để uống như thuốc. Ðó là ly do tại sao viên xá lợi này lại nhỏ như thế.
Một vị sư Tây Tạng thuộc dòng Sakya đã mua lại và chia viên xá lợi làm ba phần, một dâng cho Ðức Giáo chủ Sakya Trizin, một phần khác dâng cho Ðức Giáo chủ Chobgye Trichen và phần còn lại thứ ba dâng cho Lama Zopa Rinpoche.
Ðức Giào chủ Chobgye Trichen gắn phần xá lợi được tặng vào trong giữa đảnh tượng Phật Di Lặc cao ba tầng tại một tu viện cạnh đại tháp Boudhanath ở Nepal. Cầu vòng đã hiện trên trời quanh đại tháp khi Ngài làm lễ An Vị.
Viên Xá lợi răng nhỏ xuất xứ từ Tây Tạng đã được tặng cho Zopa Rinpoche vào năm 2002.
Viên Xá lợi trung là bảo vật thuộc viện bảo tàng Xá lợi của chánh phủ Tây Tạng. Năm 1999, ngự y của Ðức Ðạt Lai Lama, bác sĩ Wanguel đã tặng cho Lama Zopa.
Ba viên xá lợi nhỏ khác bổng nhiên xuất hiện ngay trong khi đang có cuộc triểm lãm Xá Lợi. Ðây là hình chụp vào tháng 6 năm 2001 của những viên xá lợi này chỉ gồm có hai viên mà thôi. Ðây là một điềm ấn chứng rất linh hiển cát tường.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
Huyết Xá Lợi của Phật đựợc viện chủ viện bảo tàng xá lợi tại Miến Ðiện tặng.
Xá Lợi Ðầu của Phật do We Wen Yeun tặng cho sư phụ là Lama Zopa nhân dịp lễ cầu trường thọ cho Ngài tổ chức tại Ðài Bắc ngày 18/3/2001.
Các viên ngọc xá lợi nhuyễn do một nhà sư Thái Lan mang sang Mã Lai và biếu cho một cư sĩ đã từng thực hành cúng dường tặng Ngài. Vị này rất hảo tâm, quảng đại và thường hay cất giữ xá lợi trong túi áo, vì tâm hạnh tốt nên dù ông thường hay biếu tặng người khác những viên ngọc xá lợi nhưng số lượng ngọc xá lợi trong túi áo của ông không hề vơi cạn.
Các viên ngọc xá lợi giống như các hạt mầm có vảy trắng đến từ viện bảo tàng xá lợi ở Miến Ðiện.
Một viên ngọc xá lọi to và ba viên nhỏ hơn do một sư trưởng tại Borobudur Indonesia tặng; tại nơi đây có một đại tháp thờ Phật. Thể theo lời thỉnh cầu của Lama Zopa, vị sư trưởng đã biếu tặng những viên ngọc xá lợi mà ông đã cất giữ nhiều năm qua để tôn trí thờ phượng tại Bảo Ðiện của Tôn Tượng Phật Di Lặc.
Bốn viên Ngọc Xá Lợi giống nhau do Ðức ÐạtLai Lama đời thứ 14 tặng để tôn trí thờ phượng nơi Phật Tâm Bảo Ðiện của Tôn Tượng Phật Di Lặc sắp tới.
Các viên ngọc có mầu rất trắng do We Wen Yuen tặng cho sư phụ là Lama Zopa.
CÁC ÐẠI ÐỆ TỬ CỦA ÐỨC PHẬT THÍCH CA
Ngài Mục Kiền Liên, Ngài Xá Lợi Phất, Ngài A Nan
Xuất Xứ
Xá Lợi của các đại đệ tử do We Wen Yuen hiến tặng cho Lama Zopa nhân lễ cầu trường thọ cho sư phụ tổ chức ở Ðài Bắc ngày 18/3/2001.
Xá lợi của Ngài A Nan trong hình bên trông như có màu đậm hơn và ít hơn toàn thể xá lợi của Ngài thờ trong bảo tháp. Hình này chụp vào tháng 6 năm 2001.
Ngài Long Thọ
Những viên ngọc xá lợi này xuất xứ từ Tây Tạng do Ngài Jamyang Shepa Rinpoche của tu viện Tashi Khyie biếu tặng. Xá lợi này đã được góp nhặt lại từ vùng Huang Ying, Trung Quốc.
Ðại sư Atisha
Ðại Sư A Tisha ( 982-1054 ) vốn là một hoàng tử sanh tại xứ Bengal, ở miền Ðông Ấn Ðộ. Ngài trở thành một học giả uyên thâm nhất của tu viện Nalanda Ấn Ðộ, một viện đại học Phật Giáo lớn nhất trong mọi thời đại.
Phật giáo tại Tây Tạng bị suy đồi vì có quá nhiều hoang mang trong việc hành trì hiển giáo và mật giáo. Có một niềm tin rộng lớn rằng hiển mật song tu không khả thi được. Và sự hoang mang này đã khiến cho một quốc vương Tây Tạng tên Yeshe Od có ý muốn cung thỉnh đại sư Atisha sang hoằng pháp giải nghi tại đây.
Rủi thay, quốn vương Yeshe Od bị một ông vua vô đạo tên Garriod bắt cầm tù. Cháu của vua Yeshe Od van xin thả Ngài ra và đã bị đòi chuộc mạng bằng một số vàng nặng bằng thân thể của vua. Tuy nhiên, vua Yeshe Od ngăn cản không cho cháu mình nộp vàng, trái lại hãy dâng vàng cung thỉnh đại sư Atisha sang Tây Tạng truyền đạo vì tâm nguyện của vua là chấn hưng Phật pháp tại Tây Tạng. Và sau cùng vua Yeshe Od đã chết trong ngục tù.
Cảm động trước tình thương dân và tấm lòng của vua, vào năm 1042, đại sư Atisha cũng vì tâm đại bi đối với nhân dân Tây Tạng nên đã nhận lời sang Tây Tạng chấn hưng lại nền Phật giáo nước này. Và Ngài đã sáng lập một dòng truyền thừa bất tận để hoằng dương chánh pháp mang đến nhiều lợi lạc cho nhân dân Tây Tạng.
Tại Tây Tạng, đại sư Atisha đã viết một tác phẩm lừng danh và quan trọng tên là Bồ Ðề Ðạo Ðăng Luận ( Bodhipathapradipa ). Ðây là lần đầu tiên tất cả giáo pháp của Phật được kết hợp và hệ thống hoá thành một đường lối hành trì duy nhất.
Các đệ tử hỏi Ngài:
- Những giáo pháp nào cao nhất của đạo?
Ngài đáp:
- Kỷ năng cao nhất là chúng ngộ vô ngã
- Cao quí nhất là khắc phục tâm mình
- Xuất sắc nhất là có tâm lợi tha
- Giáo ngôn cao nhất là luôn giữ chánh niệm
- Linh dược tối thượng là liễu giải tự tánh của vạn pháp
- Hành vi cao nhất là không thuận theo những hý luận thế gian
- Thành đạt cao nhất là giảm thiểu và hoá giải dục vọng
- Bố thí cao nhất được tìm trong xả bỏ
- Trì giới cao nhất là tâm an tịnh
- Nhẫn nhục cao nhất là hạnh khiêm cung
- Tinh tấn nhất là đừng bám vào hoạt động
- Thiền định cao nhất là tâm không vọng động
- Trí tuệ cao nhất là không dính mắc vào bất cứ hiện tượng nào xẩy ra.
Xuất xứ
Xá lợi của Ðại sư Atisha được giữ trong một tháp Kim Khí trên 1000
Năm. Tháp này được trao cho đệ tử tâm đắc của Ngài Atisha là Lotsawa Rinchen Zangpo, một dịch giả vĩ đại đã chuyển dịch kinh sách Phật giáo từ chữ Sanskrit sang Tạng ngữ.
Bốn viên xá lợi trắng do đức Pháp chủ dòng Sakya Dormo Poton tặng cho Lama Zopa Rinpoche.
Milarepa
Vị đại hành giả Du già nồi tiếng nhất Tây Tạng
Milarepa chào đời vào năm 1052 trong một gia đình giàu sang và mang tên Thopaga có nghĩa là ‘ hoan hỷ khi nghe ‘. Milarepa mất cha lúc còn bé và bị người chú sang đoạt tất cả tài sản. Tuân lời mẹ, Milarepa đi học ma thuật và đã dùng bùa phép để giết nhiều kẻ đồng lõa với người chú.
Về sau, Ngài ăn năn và đã tìm thầy học đạo. Ngài đã gặp dịch giả Marpa. Vị này đối xử với Milarepa thật khắc nghiệt, đã không dạy Ngài điều gì trong thời gian rất dài mà Marpa còn sai bảo Ngài làm những công việc nặng nhọc với dụng ý giúp Milarepa giải trừ các ác nghiệp đã tạo trước đây. Chẳng hạn như Marpa ra lệnh cho Milarepa dùng tay xây một ngôi nhà rồi khi xây xong lại bắt phá hủy đi. Cứ như thế, Milarepa đã dựng lên và phá xuống nhiều ngôi nhà.
Milarepa định tự sát vì nản lòng thì Marpa biết được và rơi lệ trước sự tuyệt vọng của đệ tử. Lúc ấy Marpa mới truyền quán đảnh và dạy pháp cho. Milarepa tinh tấn thực tập đơn độc trong hang động và chỉ ăn lá thông mà sống. Dưới sự chỉ dạy của Marpa, Ngài đã đạt giác ngộ chỉ trong một kiếp sống.
Xuất xứ
Các xá lợi này do Wu Wen Yuen tặng cho sư phụ là Lama Zopa nhân ngày lễ cầu trường thọ của Ngài.
Geshe Chekawa
Geshe Chekawa chào đời tại Tây Tạng vào năm 1220 có pháp danh là Yeshe Dorje. Yeshe là trì huệ và Dorje là hợp nhất giữa phương pháp và trí tuệ. Ngài dựng lên tu viện Chekha gần thủ đô Lhasa của Tây Tạng nên cũng được gọi lả Chekawa. Ngài học tập để luyện tâm suốt 14 năm với sư phụ là Ngài Sharawa. Nhờ thiền tập Ngài đã chứng được bồ đề tâm.
Ngài nổi danh nhờ soạn ra quyển ‘ Bảy Ðiểm Luyện Tâm ‘.
Pháp luyện tâm bao gồm xả bỏ, bồ đề tâm và chánh kiến. Trong đó dạy những giáo pháp huấn luyện đặc biệt làm sao đối ứng với các khó khăn trong đời sống hằng ngày, làm sao biến các khó khăn này trở thành hữu ích cho mọi người, thành nguồn gốc tạo phước lạc cho mọi loài. Ðây là phát triển bồ đề tâm.
Xuất xứ
Viên xá lợi bé nhỏ này là của Geshe Chekawa do một gia đình ở Lhasa thu nhặt từ một bảo tháp bị phá hủy khi Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng.
Ðại Sư Lama Je Tsongkhapa
Ngài chào đời ở vùng Tsongkha của tỉnh Amdo miền đông Tây Tạng. Ngài rất nổi danh vì sự hành hoạt kham khổ của mình. Ngài đã hoàn thành 3,500, 000 cái lạy nằm, năm vóc phủ phục đến nổi thân thể Ngài đã để lại dấu ấn sâu trên sàn chùa và Ngài cũng thiết trí rất nhiều đàn tràng cúng dường đến nổi cánh tay Ngài bị xước da rướm máu. Ngài đã nhiều lần được trông thấy ấn tích của đức Ðại Trí Văn Thù.
Lúc đang đọc bản chú giải, ‘ Căn bản trung quán luận tụng của Ngài Long Thọ, Ngài liễu ngộ được tánh không. Từ đó, Ngài soạn ra tác phẩm ‘ Duyên Khởi Tán’.
Ngài là tổ khai sơn dòng Gelup của Phật Giáo đại thừa Tây Tạng.
Ngài tịch lúc 62 tuổi. Các đệ tử hiện diện chứng thị nhiều hào quang rực rở chiếu sáng từ nhục thân nên tất cả đều tin tưởng sư phụ đã được cao đăng viên chứng đại giác.
Ngài dạy:
- Nếu biết rằng có được thọ mạng trung bình quả thật khó khăn,
- Nếu thấy được những phước báu vĩ đại của mạng sống, bạn sẽ hối tiếc nếu tiếp tục sống vô ý nghĩa.
- Nếu nghĩ đến tử vong, bạn sẽ chuẩn bị cho những kiếp sống tương lai.
- Nếu nghĩ đến nhân quả, bạn sẽ dứt bỏ lối sống phóng dật.
Xuất xứ
Lúc còn sanh tiền, Ngài đã tặng một chiếc răng cho một đệ tử tâm đắc là Khedrup Je. Vì các đệ tử khác cũng muốn có nên Ngài đặt cái răng ấy lên bàn thờ để cúng dường và chú nguyện. Chiếc răng liền biến thành chín cái đề Ngài phân phát cho đệ tử.
Chiếc răng xá lợi triển lãm ở đây là một trong chín viên ngọc xá lợi biến ra từ răng gốc và do Wesar Rinpoche thuộc tu viện Sera May ở Nam Ấn Ðộ tặng cho Lam Zopa vào năm 1987.
Gyalwa Ensapa
Ngài Gyalwa ( 1505-1566 ) là một đại sư dòng phái Kadampa, sinh ở làng Ensa, vùng Hlaku gần sông Tsang Tây Tạng, giống như vị đại hành giả du già nồi tiếng Milarepa, Ngài đã đắc đạo trong một đời.
Xuất xứ
Các xá lợi này do Wu Wen Yuen tặng cho Lama Zopa.
Ðức Pháp Chủ Karmapa I Dòng Phái Kagyu
Phật giáo Tây Tạng có bốn dòng phái chánh, Gelup, Kagyu, Nyingma, và Sakya. Dòng Kagyu bắt nguồn từ Phật Thích Ca rồi truyền xuống cho các Ngài Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa. Ðệ tử của Milarepa là Gampopa đã truyền pháp cho đức Pháp Chủ Karmapa I, Dusum Khyenpa.
Ðức Karmapa là vị lãnh đạo tinh thần của dòng Kagyu và được xem là biểu hiện của mọi phúc lành của dòng phái. Mỗi vị Karmapa đều có để lại di chúc báo trước chi tiết và hoàn cảnh chính xác của tất cả lần tái sanh kế tiếp.
Các vị pháp chủ Karmapa đã được Ðức Thích Cá Mâu Ni Phật thọ ký từ lâu trong kinh Samadhiraha và cũng được vị đại sư Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ tám là Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ) thọ ký.
Ðức Pháp Chủ I
Toàn bộ xá lợi đều là của đức Karmapa I tên Dusum Khyenpa. Từ bé Ngài đã siêng năng học và hành đạo. Ðến lúc 30 tuổi, Ngài gặp được bổn sư Gampopa, và được dạy về tầm mức trọng yếu của sự phát triển một nền tảng hành trì và một kiến thức vũng chắc trước khi dấn bước hành trì kim Cang Thừa ( Vajrayana hay tantra ).
Dusum Khyenpa bắt đầu nhập thất để tập thiền chỉ ( Shamatha ) và thiền quán ( Vipassana ). Sau đó, Ngài học với Rechungpa, một đệ tử khác của Milarepa về sáu pháp yoga của Naropa và đã luyện được viên mãn pháp nội hỏa ( tummo ).
Khi Ngài Gampopa viên tịch, Ðức Karmapa I trông thấy một ảnh tượng từ đó Ngài hành trì pháp đại thủ ấn ( Mahamudra ), Năm 50 tuổi, Ngài chứng đạo lúc đang hành trì Du Già Mộng ( Dream Yoga ).
Ngài dành quảng đời còn lại để truyền đạo và viên tịch năm 84 tuổi. Sau lễ hỏa táng, tim Ngài vẫn còn nguyên vẹn và một vài đốt xương còn lại đã hoá hiện thành nhiều hình ảnh của chư Phật.
Xá lợi của Ngài rất giống xá lợi của Ðức Pháp Chủ Karmapa XVI.
Ðức Pháp Chủ karmapa XVI
Vào năm 1981 khi Rangjung Rigpa Dorji, đức pháp chủ Karmapa XVI tỏ lộ một vài dấu tích đau yếu, Ngài liền lưu lại một bức thư tỏ rõ mọi cảnh trạng của lần tái sanh sắp tới. Sau khi viên tịch, nhục thân của Ngài vẫn giữ nguyên vẹn tư thế ngồi thẳng thiền tọa liên tiếp ba ngày và toàn thân ở trên lồng ngực đều còn giữ nguyên độ ấm. Trong khi đang trà tỳ, trái tim Ngài bổng dưng rơi ra khỏi hỏa thân. Hiện nay quả tim này đang được kính cẩn tôn trí tại tu viện Rumtek, Sikkim để thờ như một bảo ngọc xá lợi. Khi lễ trà tỳ chấm dứt, có hai dấu chân bước theo hướng Bắc về phía Tây Tạng được tìm thấy trong đám tro.
Ðức Pháp Chủ Karmapa XVÌI hiện nay đang sống lưu vong trong vùng núi tại Dharamsala, Ấn Ðộ.
Xuất Xứ
Cả hai bộ xá lợi đều do Wu Wen Yuen tặng cho sư phụ.
Papongka Rinpoche
Ngài là bổn sư của hai vị giáo thọ của đức Dạl Lai Lama 14.
Ngài dạy Bồ đề đạo thứ đệ luận để phát bồ đề tâm. Bồ đề tâm là sự phát tâm cầu giác ngộ để cứu khổ mọi loài chúng sanh. Ðây là giáo pháp cốt lõi của những người tu theo Phật giáo đại thừa.
Ribur Rinpoche nhắc đến sư phụ mình như sau:
Ngài không bao giờ nổi giận, mọi sự sân giận đều được cảm hóa bằng chính bồ đề tâm của Ngài. Nhiều khi có hàng dài người chờ để được Ngài ban phúc lành. Tuy nhiên, Rinpoche lại ôn tồn hòi thăm từng người rồi còn vổ nhẹ lên đầu họ nữa. Có đôi khi, lại cho họ các loại dược phẩm. ngài luôn luôn từ ái. Và tất cả những đặc tính này đã khiến Ngài trở thành vô cùng khác biệt, siêu việt.
Ngài từng khuyên càc đệ tử:
- Quí vĩ hãy cố thực hành để những điều tôi dạy không bị uổng phí. Nhưng trên hết, hãy lấy việc tập phát triển Bồ Ðề tâm làm sự thực tập chánh yếu. Quí vị cũng nên thiền quán về những chủ đề khác với mục đích giúp tăng trưởng bồ đề tâm của mình.
Xuất xứ
Nhục thân của Pabongka Rinpoche đã được nhập tháp ở Tây Tạng, nhưng tháp bị phá hủy khi Trung Cộng xâm chiếm. Ðệ tử của Ngài, Ribur Rinpoche, đã tìm được mảnh xương xá lợi này và sau đó tặng lại cho Lama Zopa.
Ðại sư Lama Thubten Yeshe
Viên ngọc xá lợi tuyệt đẹp này là của Lama Yeshe, bổn sư của Lama Zopa Rinpoche, đã cất giử từ khi Lama Yeshe viên tịch năm 1984.
Ðại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm
Ngài chuyên tu khổ hạnh. Nhiệm vụ của Ngài là đánh chuông thức chúng. Một hôm dậy trể, và từ đó Ngài nguyện suốt đời ngủ không nằm chạm lưng.
Năm 1933 lúc 42 tuổi, Ngài thọ cụ túc và năm sau, vào hang núi một mình để nhập thất mà không biết đó là hang cọp. Rồi Ngài làm bạn với chúng.
Xuất xứ
Hai viên xá lợi này do Ni sư Chwan Wen tặng năm 2001.
TRIỂN LÃM XÁ LỢI PHẬT VÀ CÁC Vị THÁNH TĂNG
Toàn bộ những viên Xá Lợi Phật cổ xưa linh hiển và vô cùng hiếm quí sẽ được triểm lãm tại Chùa Linh Sơn.
Xá Lợi của Phật và các vị đại thánh cao tăng thạc đức đã được trân quí tôn thờ từ lúc khởi thủy của nền văn minh nhân loại. Xá Lợi là những thánh thể linh hiển của các bậc đại sư đã đạt được những chứng đắc phi thường trong suốt quãng đời tu hành. Nền tảng của sự chứng đắc là sự huân tu giới luật thanh tịnh và công hạnh xã ly, một tâm thái hoàn toàn đoạn diệt với mọi ái dục thế gian.
Tất cả ngọc xá lợi này đều được thu góp từ nhiều khởi nguồn vô cùng hy hữu và bảo đảm chắc chắn, chẳng hạn như sự thương tặng của đức Ðạt Lai La Ma.
Do nhờ vào tâm tuyệt đối thanh tịnh của các bậc thánh tăng mà từng hạt tựa như các viên ngọc trai lóng lánh đã kết tụ lại gọi là xá lợi.
Thông thường xá lợi được cất giữ và canh chừng rất cẩn mật trong các bảo tháp và điện thờ. Chúng ta phải xin phép mới được chiêm bái vì không ai cũng đủ thiện duyên.
NGUYÊN DO CHƯ PHẬT LƯU LẠI XÁ LỢI
Khi Phật còn trụ thế, chúng sanh thời đó hội đủ thiện duyên để được gần gũi chiêm ngưỡng kim thân của Ngài, đảnh lễ và được trực tiếp thọ nhận những giáo huấn của Phật.
Khi Ðức Phật thị tịch, nhằm lợi lạc chúng sanh, Ðức Phật đã lưu lại xá lợi như những pháp bảo để tất cả hàng hậu sanh đều được trực tiếp chiêm bái, bày tỏ lòng sùng kính bằng những nghi thức cúng dường.
Chính vì lòng đại bi hương xót muôn loài của Ngài mà ngày nay chúng ta đã hội đủ nhân duyên để đảnh lễ toàn thân pháp bảo của Ðức Phật.
CÔNG ÐỨC GÌ KHI ÐƯỢC CHIÊM BÁI
Kinh Phật dạy rằng, chiêm bái và đảnh lễ những xá lợi như thế này tạo được vô lượng công đức thù thắng. Do diệu lực mầu nhiệm của các pháp bảo, ví dụ như ngọc xá lợi chẳng hạn, nên mọi sự cầu nguyện hoặc mọi nghi thức kính tin cúng dường đối với pháp bảo đều tức khắc gây tạo được nhiều thiện duyên an lạc đưa đến giác ngộ giải thoát. Pháp bảo thường dễ dàng tạo nên cơ duyên rất hữu ích cho đời sống tâm linh. Xá lợi quả thật đã mang đến vô số lợi lạc không thể nghĩ bàn đối với những chúng sanh nào hữu duyên được chiêm ngưỡng kính bái. Ðiều này đúng với các tín đồ Phật giáo và ngay cả đối với những nguời khác tín ngưỡng. Vì diệu lực tối thắng của chính pháp bảo tạo nên. Mọi công đức và lợi lạc không tùy thuộc nơi đối tượng chiêm bái, mà tùy thuộc vào lòng kính tin thanh tịnh đối với xá lợi hay không.
VÌ SAO PHẢI KÍNH BÁI XÁ LỢI
Xá lợi là tinh hoa cốt lõi của công hạnh giác ngộ viên mãn. Nền tảng của sự giác ngộ là huân tu trì giới thanh tịnh, chính là tâm tuyệt đối hoàn toàn đoạn diệt mọi ái nhiễm trần thế. Nơi mà mọi xích chuyền luân hồi sanh tử từ vô thỉ, do vô minh chịu ảnh hưởng của rất nhiều phiền não và nghiệp lực.
Những cảm xúc mà chúng ta thường gọi là thú vui chẳng hạn như thỏa mãn dục lạc khác với những an lạc đạt được do thiền định.
Nếu không nhận định rõ ràng thì mọi thú vui ở đời sẽ dường như hoàn toàn tùy thuộc vào những hiện tượng ngoại tại. Tuy nhiên, nếu quán xét chúng thì ta sẽ nhận thức được rằng mọi lạc thú tạo ra từ những xúc giác đều là một loại khổ đau. Loại khổ đau này chỉ giản đơn được tâm thức ta gán cho chúng một nhãn hiệu là ‘ lạc thú ‘để rồi cũng chính tâm ta lại tin sâu vào cái nhãn hiện này. Ðây là một loại khổ đau bởi vì mọi xúc cảm của ta bao gồm những khoái cảm ăn, ngủ, ái dục, tất cả đều không thường còn. Một khi đã ý thức được điều này thì ta sẽ khởi sự phát triển một ý hướng xả ly, đoạn diệt.
Ðối với Phật giáo thì phương pháp để chấm dứt sanh tử luân hồi và mọi loại khổ đau như già nua, tật bệnh, xung khắc tinh thần và hàng tỷ tỷ vấn nạn trong cõi trầm luân này là hãy chấm dứt luân hồi ngay tại nơi đây. Ðể chấm dứt luân hồi ngay tại nơi đây, ta cần phải hoá giải những phiền não trong tâm mình như vô minh, sân hận, tính chấp trước, lòng điên đảo đã từng khởi nguồn từ một nghiệp duyên. Và đó chính là sự vô minh đối với thể tánh chân thật của tự ngã, của ‘ cái tôi ‘. Ta luôn luôn bàn luận rằng; ‘ tôi làm, tôi muốn, vv. Tuy nhiên, hãy tự hỏi, cái gì là tôi? Tôi ở đâu?
Quả thật, rất khó để liễu giải được chân tánh của tự ngã, một thể tánh chân thật rốt ráo của tâm thức nếu bạn không tìm học và cũng không thiền quán.
Chân tâm của cái tôi là gì? Chân tánh này đã được tâm thức gán cho một nhãn hiệu rồi. Nền tảng của nhãn hiệu này chính là sự tổng hợp của thân tâm. Sự tổng hợp này bao gồn, ngũ uẩn của một con người. Thông thường, chúng được gọi là, sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
Lý do duy nhất mà tôi hiện hữu vì ngũ uẩn hiện hữu.
Nếu ta liễu giải tường tận rằng, cái tôi chỉ là một huyển danh thôi, thì cái tôi này sẽ không có khổ đau, cái tôi này sẽ không có nhiều vấn nạn, nhiều lo âu sợ sệt và tất cả mọi vấn đề như vầy.
Ðức Phật đã thuyết giảng về Tứ Thánh Ðế, sự thật về khổ, nguồn gốc của Khổ. Sau đó Ngài dạy rằng chúng sanh có thể thoát khỏi khổ và mọi nguyên nhân gây ra khổ nương nhờ vào con đường diệt khổ. Sau cùng Ngài chỉ bày con đường có thể thật sự giúp chúng ta liễu ngột được sự thật của chính mình, chân tánh rốt ráo của ‘ cái tôi ‘, thế tánh chân thật uyên nguyên của tâm thức hay còn gọi là chân tâm Phật tánh.
Người lưu lại xá lợi là người đã hoàn toàn lìa bỏ, hoàn toàn khước từ ba cảnh giới của vòng luân hồi sanh tử, đó là dục giới ( cõi Ta Bà ), Sắc giới, Vô sắc giới. Tại sao? Vì người này đã liễu ngộ rằng, tất cả ba cảnh giới trên đây vốn mang tính chất khổ đau.
Hơn thế nữa, Bồ đề tâm của họ sẽ quảng khai rộng mở vì chứng kiến cảnh khổ của muôn loài và lòng đại bi sẽ tự nhiên hiện ứng lên trong tâm, để rồi nguyện vọng từ bi cao cả giác ngộ nhằm cứu độ chúng sanh sẽ tự khắc nở hoa. Phương cách duy nhất để thành đạt được điều này là nhờ vào công hạnh tỏ ngộ chân tâm ( của cái tôi ).
Khi chiêm bái xá lợi, tâm ta sẽ được thanh tịnh hoá rất nhiều. Kinh dạy rằng, bạn sẽ tích tạo được nhiều công đức hơn nếu hội đủ duyên lành nhiểu quanh, đảnh lễ cúng dường xá lợi thay vì chỉ đơn giản ngắm nhìn những thánh tích pháp bảo. Lời dạy trên đây áp dụng đồng đẳng đối với sự chiêm bái đảnh lễ xá lợi hay đối với tôn tượng của Phật.
Khi chánh đạo từ bi và phương tiện thiện xảo đã vẹn toàn, chư Phật đạt được viên mãn đại giác và lưu biến rất nhiều xá lợi để mang an vui, lợi lạc và đồng thời giúp chúng ta sớm được giác ngộ. Vì lòng đại bi vô lượng vô biên đối với tất cả chúng sanh.
Xá lợi là thành quả của một trái tim từ ái. Tất cả chúng ta vốn có Phật tánh và vốn có đủ công năng để lưu lại xá lợi
Lama Zopa dạy:
“ Nếu thẩm định và tư duy kỷ càng, bạn sẽ ngộ giải rắng, nếu không nhờ có từ bi tâm, dù bạn có sở hữu được nhiều thế mấy, có tận công gắng sức thế mấy thì bạn vẫn không bao giờ cảm thấy an lạc. Tự đáy lòng sâu thẳm, bạn chẳng được an vui và luôn nghĩ mình còn thiếu thiếu sót, còn chưa đủ có.
Phương pháp tối thượng khiến cuộc đời đượm nhiều ý nghĩa là hãy tinh tấn nhiêu ích chúng sanh và khởi phát đại từ và đại bi tâm đối với chúng sanh. Ðây cũng đồng thời là một phương pháp vô thượng để tìm được an bình, hạnh phúc, tự mãn hài lòng với chính mình”.
XUẤT XỨ CỦA CÁC XÁ LỢI
Ðức Phật Ca Diếp
Là vị Phật thứ ba trong 1, 000 vị Phật của Hiền Kiếp. Ðức Phật thứ nhất là Phật Câu Lưu Tôn, thứ hai là Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật thứ Tư, kế tiếp là Phật Di Lặc. Tất cả vị Phật trong Hiền Kiếp sẽ thành đạo tại Bổ Ðề Ðạo Tràng, khiến nơi đây trở thành một thánh địa vô cùng linh hiển để hành hương chiêm bái.
Phật Ca Diếp, Kasyapa Buddha, dạy:
Tránh làm điều ác
Siêng làm việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Ðây lời Phật dạy.
Viên xá lợi răng to này nguyên được tôn trí bên trong bức tượng của Ngài Gyalwa Ensapa tại một tu viện ở Tây Tạng. Chiếc răng này nguyên là một phần của toàn thân pháp bảo của đức Phật Ca diếp. Tượng này bị phá hủy khi Trung Cộng xâm chiếm Tây Tạng, tuy nhiên có một gia đình Tây Tạng đã bí mật gỡ chiến xá lợi răng ấy ra.
Khi gia đình có người bệnh, họ thường mài một phần của viên xá lợi răng thành bột để uống như thuốc. Ðó là ly do tại sao viên xá lợi này lại nhỏ như thế.
Một vị sư Tây Tạng thuộc dòng Sakya đã mua lại và chia viên xá lợi làm ba phần, một dâng cho Ðức Giáo chủ Sakya Trizin, một phần khác dâng cho Ðức Giáo chủ Chobgye Trichen và phần còn lại thứ ba dâng cho Lama Zopa Rinpoche.
Ðức Giào chủ Chobgye Trichen gắn phần xá lợi được tặng vào trong giữa đảnh tượng Phật Di Lặc cao ba tầng tại một tu viện cạnh đại tháp Boudhanath ở Nepal. Cầu vòng đã hiện trên trời quanh đại tháp khi Ngài làm lễ An Vị.
Viên Xá lợi răng nhỏ xuất xứ từ Tây Tạng đã được tặng cho Zopa Rinpoche vào năm 2002.
Viên Xá lợi trung là bảo vật thuộc viện bảo tàng Xá lợi của chánh phủ Tây Tạng. Năm 1999, ngự y của Ðức Ðạt Lai Lama, bác sĩ Wanguel đã tặng cho Lama Zopa.
Ba viên xá lợi nhỏ khác bổng nhiên xuất hiện ngay trong khi đang có cuộc triểm lãm Xá Lợi. Ðây là hình chụp vào tháng 6 năm 2001 của những viên xá lợi này chỉ gồm có hai viên mà thôi. Ðây là một điềm ấn chứng rất linh hiển cát tường.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
Huyết Xá Lợi của Phật đựợc viện chủ viện bảo tàng xá lợi tại Miến Ðiện tặng.
Xá Lợi Ðầu của Phật do We Wen Yeun tặng cho sư phụ là Lama Zopa nhân dịp lễ cầu trường thọ cho Ngài tổ chức tại Ðài Bắc ngày 18/3/2001.
Các viên ngọc xá lợi nhuyễn do một nhà sư Thái Lan mang sang Mã Lai và biếu cho một cư sĩ đã từng thực hành cúng dường tặng Ngài. Vị này rất hảo tâm, quảng đại và thường hay cất giữ xá lợi trong túi áo, vì tâm hạnh tốt nên dù ông thường hay biếu tặng người khác những viên ngọc xá lợi nhưng số lượng ngọc xá lợi trong túi áo của ông không hề vơi cạn.
Các viên ngọc xá lợi giống như các hạt mầm có vảy trắng đến từ viện bảo tàng xá lợi ở Miến Ðiện.
Một viên ngọc xá lọi to và ba viên nhỏ hơn do một sư trưởng tại Borobudur Indonesia tặng; tại nơi đây có một đại tháp thờ Phật. Thể theo lời thỉnh cầu của Lama Zopa, vị sư trưởng đã biếu tặng những viên ngọc xá lợi mà ông đã cất giữ nhiều năm qua để tôn trí thờ phượng tại Bảo Ðiện của Tôn Tượng Phật Di Lặc.
Bốn viên Ngọc Xá Lợi giống nhau do Ðức ÐạtLai Lama đời thứ 14 tặng để tôn trí thờ phượng nơi Phật Tâm Bảo Ðiện của Tôn Tượng Phật Di Lặc sắp tới.
Các viên ngọc có mầu rất trắng do We Wen Yuen tặng cho sư phụ là Lama Zopa.
CÁC ÐẠI ÐỆ TỬ CỦA ÐỨC PHẬT THÍCH CA
Ngài Mục Kiền Liên, Ngài Xá Lợi Phất, Ngài A Nan
Xuất Xứ
Xá Lợi của các đại đệ tử do We Wen Yuen hiến tặng cho Lama Zopa nhân lễ cầu trường thọ cho sư phụ tổ chức ở Ðài Bắc ngày 18/3/2001.
Xá lợi của Ngài A Nan trong hình bên trông như có màu đậm hơn và ít hơn toàn thể xá lợi của Ngài thờ trong bảo tháp. Hình này chụp vào tháng 6 năm 2001.
Ngài Long Thọ
Những viên ngọc xá lợi này xuất xứ từ Tây Tạng do Ngài Jamyang Shepa Rinpoche của tu viện Tashi Khyie biếu tặng. Xá lợi này đã được góp nhặt lại từ vùng Huang Ying, Trung Quốc.
Ðại sư Atisha
Ðại Sư A Tisha ( 982-1054 ) vốn là một hoàng tử sanh tại xứ Bengal, ở miền Ðông Ấn Ðộ. Ngài trở thành một học giả uyên thâm nhất của tu viện Nalanda Ấn Ðộ, một viện đại học Phật Giáo lớn nhất trong mọi thời đại.
Phật giáo tại Tây Tạng bị suy đồi vì có quá nhiều hoang mang trong việc hành trì hiển giáo và mật giáo. Có một niềm tin rộng lớn rằng hiển mật song tu không khả thi được. Và sự hoang mang này đã khiến cho một quốc vương Tây Tạng tên Yeshe Od có ý muốn cung thỉnh đại sư Atisha sang hoằng pháp giải nghi tại đây.
Rủi thay, quốn vương Yeshe Od bị một ông vua vô đạo tên Garriod bắt cầm tù. Cháu của vua Yeshe Od van xin thả Ngài ra và đã bị đòi chuộc mạng bằng một số vàng nặng bằng thân thể của vua. Tuy nhiên, vua Yeshe Od ngăn cản không cho cháu mình nộp vàng, trái lại hãy dâng vàng cung thỉnh đại sư Atisha sang Tây Tạng truyền đạo vì tâm nguyện của vua là chấn hưng Phật pháp tại Tây Tạng. Và sau cùng vua Yeshe Od đã chết trong ngục tù.
Cảm động trước tình thương dân và tấm lòng của vua, vào năm 1042, đại sư Atisha cũng vì tâm đại bi đối với nhân dân Tây Tạng nên đã nhận lời sang Tây Tạng chấn hưng lại nền Phật giáo nước này. Và Ngài đã sáng lập một dòng truyền thừa bất tận để hoằng dương chánh pháp mang đến nhiều lợi lạc cho nhân dân Tây Tạng.
Tại Tây Tạng, đại sư Atisha đã viết một tác phẩm lừng danh và quan trọng tên là Bồ Ðề Ðạo Ðăng Luận ( Bodhipathapradipa ). Ðây là lần đầu tiên tất cả giáo pháp của Phật được kết hợp và hệ thống hoá thành một đường lối hành trì duy nhất.
Các đệ tử hỏi Ngài:
- Những giáo pháp nào cao nhất của đạo?
Ngài đáp:
- Kỷ năng cao nhất là chúng ngộ vô ngã
- Cao quí nhất là khắc phục tâm mình
- Xuất sắc nhất là có tâm lợi tha
- Giáo ngôn cao nhất là luôn giữ chánh niệm
- Linh dược tối thượng là liễu giải tự tánh của vạn pháp
- Hành vi cao nhất là không thuận theo những hý luận thế gian
- Thành đạt cao nhất là giảm thiểu và hoá giải dục vọng
- Bố thí cao nhất được tìm trong xả bỏ
- Trì giới cao nhất là tâm an tịnh
- Nhẫn nhục cao nhất là hạnh khiêm cung
- Tinh tấn nhất là đừng bám vào hoạt động
- Thiền định cao nhất là tâm không vọng động
- Trí tuệ cao nhất là không dính mắc vào bất cứ hiện tượng nào xẩy ra.
Xuất xứ
Xá lợi của Ðại sư Atisha được giữ trong một tháp Kim Khí trên 1000
Năm. Tháp này được trao cho đệ tử tâm đắc của Ngài Atisha là Lotsawa Rinchen Zangpo, một dịch giả vĩ đại đã chuyển dịch kinh sách Phật giáo từ chữ Sanskrit sang Tạng ngữ.
Bốn viên xá lợi trắng do đức Pháp chủ dòng Sakya Dormo Poton tặng cho Lama Zopa Rinpoche.
Milarepa
Vị đại hành giả Du già nồi tiếng nhất Tây Tạng
Milarepa chào đời vào năm 1052 trong một gia đình giàu sang và mang tên Thopaga có nghĩa là ‘ hoan hỷ khi nghe ‘. Milarepa mất cha lúc còn bé và bị người chú sang đoạt tất cả tài sản. Tuân lời mẹ, Milarepa đi học ma thuật và đã dùng bùa phép để giết nhiều kẻ đồng lõa với người chú.
Về sau, Ngài ăn năn và đã tìm thầy học đạo. Ngài đã gặp dịch giả Marpa. Vị này đối xử với Milarepa thật khắc nghiệt, đã không dạy Ngài điều gì trong thời gian rất dài mà Marpa còn sai bảo Ngài làm những công việc nặng nhọc với dụng ý giúp Milarepa giải trừ các ác nghiệp đã tạo trước đây. Chẳng hạn như Marpa ra lệnh cho Milarepa dùng tay xây một ngôi nhà rồi khi xây xong lại bắt phá hủy đi. Cứ như thế, Milarepa đã dựng lên và phá xuống nhiều ngôi nhà.
Milarepa định tự sát vì nản lòng thì Marpa biết được và rơi lệ trước sự tuyệt vọng của đệ tử. Lúc ấy Marpa mới truyền quán đảnh và dạy pháp cho. Milarepa tinh tấn thực tập đơn độc trong hang động và chỉ ăn lá thông mà sống. Dưới sự chỉ dạy của Marpa, Ngài đã đạt giác ngộ chỉ trong một kiếp sống.
Xuất xứ
Các xá lợi này do Wu Wen Yuen tặng cho sư phụ là Lama Zopa nhân ngày lễ cầu trường thọ của Ngài.
Geshe Chekawa
Geshe Chekawa chào đời tại Tây Tạng vào năm 1220 có pháp danh là Yeshe Dorje. Yeshe là trì huệ và Dorje là hợp nhất giữa phương pháp và trí tuệ. Ngài dựng lên tu viện Chekha gần thủ đô Lhasa của Tây Tạng nên cũng được gọi lả Chekawa. Ngài học tập để luyện tâm suốt 14 năm với sư phụ là Ngài Sharawa. Nhờ thiền tập Ngài đã chứng được bồ đề tâm.
Ngài nổi danh nhờ soạn ra quyển ‘ Bảy Ðiểm Luyện Tâm ‘.
Pháp luyện tâm bao gồm xả bỏ, bồ đề tâm và chánh kiến. Trong đó dạy những giáo pháp huấn luyện đặc biệt làm sao đối ứng với các khó khăn trong đời sống hằng ngày, làm sao biến các khó khăn này trở thành hữu ích cho mọi người, thành nguồn gốc tạo phước lạc cho mọi loài. Ðây là phát triển bồ đề tâm.
Xuất xứ
Viên xá lợi bé nhỏ này là của Geshe Chekawa do một gia đình ở Lhasa thu nhặt từ một bảo tháp bị phá hủy khi Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng.
Ðại Sư Lama Je Tsongkhapa
Ngài chào đời ở vùng Tsongkha của tỉnh Amdo miền đông Tây Tạng. Ngài rất nổi danh vì sự hành hoạt kham khổ của mình. Ngài đã hoàn thành 3,500, 000 cái lạy nằm, năm vóc phủ phục đến nổi thân thể Ngài đã để lại dấu ấn sâu trên sàn chùa và Ngài cũng thiết trí rất nhiều đàn tràng cúng dường đến nổi cánh tay Ngài bị xước da rướm máu. Ngài đã nhiều lần được trông thấy ấn tích của đức Ðại Trí Văn Thù.
Lúc đang đọc bản chú giải, ‘ Căn bản trung quán luận tụng của Ngài Long Thọ, Ngài liễu ngộ được tánh không. Từ đó, Ngài soạn ra tác phẩm ‘ Duyên Khởi Tán’.
Ngài là tổ khai sơn dòng Gelup của Phật Giáo đại thừa Tây Tạng.
Ngài tịch lúc 62 tuổi. Các đệ tử hiện diện chứng thị nhiều hào quang rực rở chiếu sáng từ nhục thân nên tất cả đều tin tưởng sư phụ đã được cao đăng viên chứng đại giác.
Ngài dạy:
- Nếu biết rằng có được thọ mạng trung bình quả thật khó khăn,
- Nếu thấy được những phước báu vĩ đại của mạng sống, bạn sẽ hối tiếc nếu tiếp tục sống vô ý nghĩa.
- Nếu nghĩ đến tử vong, bạn sẽ chuẩn bị cho những kiếp sống tương lai.
- Nếu nghĩ đến nhân quả, bạn sẽ dứt bỏ lối sống phóng dật.
Xuất xứ
Lúc còn sanh tiền, Ngài đã tặng một chiếc răng cho một đệ tử tâm đắc là Khedrup Je. Vì các đệ tử khác cũng muốn có nên Ngài đặt cái răng ấy lên bàn thờ để cúng dường và chú nguyện. Chiếc răng liền biến thành chín cái đề Ngài phân phát cho đệ tử.
Chiếc răng xá lợi triển lãm ở đây là một trong chín viên ngọc xá lợi biến ra từ răng gốc và do Wesar Rinpoche thuộc tu viện Sera May ở Nam Ấn Ðộ tặng cho Lam Zopa vào năm 1987.
Gyalwa Ensapa
Ngài Gyalwa ( 1505-1566 ) là một đại sư dòng phái Kadampa, sinh ở làng Ensa, vùng Hlaku gần sông Tsang Tây Tạng, giống như vị đại hành giả du già nồi tiếng Milarepa, Ngài đã đắc đạo trong một đời.
Xuất xứ
Các xá lợi này do Wu Wen Yuen tặng cho Lama Zopa.
Ðức Pháp Chủ Karmapa I Dòng Phái Kagyu
Phật giáo Tây Tạng có bốn dòng phái chánh, Gelup, Kagyu, Nyingma, và Sakya. Dòng Kagyu bắt nguồn từ Phật Thích Ca rồi truyền xuống cho các Ngài Tilopa, Naropa, Marpa, Milarepa. Ðệ tử của Milarepa là Gampopa đã truyền pháp cho đức Pháp Chủ Karmapa I, Dusum Khyenpa.
Ðức Karmapa là vị lãnh đạo tinh thần của dòng Kagyu và được xem là biểu hiện của mọi phúc lành của dòng phái. Mỗi vị Karmapa đều có để lại di chúc báo trước chi tiết và hoàn cảnh chính xác của tất cả lần tái sanh kế tiếp.
Các vị pháp chủ Karmapa đã được Ðức Thích Cá Mâu Ni Phật thọ ký từ lâu trong kinh Samadhiraha và cũng được vị đại sư Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ tám là Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ) thọ ký.
Ðức Pháp Chủ I
Toàn bộ xá lợi đều là của đức Karmapa I tên Dusum Khyenpa. Từ bé Ngài đã siêng năng học và hành đạo. Ðến lúc 30 tuổi, Ngài gặp được bổn sư Gampopa, và được dạy về tầm mức trọng yếu của sự phát triển một nền tảng hành trì và một kiến thức vũng chắc trước khi dấn bước hành trì kim Cang Thừa ( Vajrayana hay tantra ).
Dusum Khyenpa bắt đầu nhập thất để tập thiền chỉ ( Shamatha ) và thiền quán ( Vipassana ). Sau đó, Ngài học với Rechungpa, một đệ tử khác của Milarepa về sáu pháp yoga của Naropa và đã luyện được viên mãn pháp nội hỏa ( tummo ).
Khi Ngài Gampopa viên tịch, Ðức Karmapa I trông thấy một ảnh tượng từ đó Ngài hành trì pháp đại thủ ấn ( Mahamudra ), Năm 50 tuổi, Ngài chứng đạo lúc đang hành trì Du Già Mộng ( Dream Yoga ).
Ngài dành quảng đời còn lại để truyền đạo và viên tịch năm 84 tuổi. Sau lễ hỏa táng, tim Ngài vẫn còn nguyên vẹn và một vài đốt xương còn lại đã hoá hiện thành nhiều hình ảnh của chư Phật.
Xá lợi của Ngài rất giống xá lợi của Ðức Pháp Chủ Karmapa XVI.
Ðức Pháp Chủ karmapa XVI
Vào năm 1981 khi Rangjung Rigpa Dorji, đức pháp chủ Karmapa XVI tỏ lộ một vài dấu tích đau yếu, Ngài liền lưu lại một bức thư tỏ rõ mọi cảnh trạng của lần tái sanh sắp tới. Sau khi viên tịch, nhục thân của Ngài vẫn giữ nguyên vẹn tư thế ngồi thẳng thiền tọa liên tiếp ba ngày và toàn thân ở trên lồng ngực đều còn giữ nguyên độ ấm. Trong khi đang trà tỳ, trái tim Ngài bổng dưng rơi ra khỏi hỏa thân. Hiện nay quả tim này đang được kính cẩn tôn trí tại tu viện Rumtek, Sikkim để thờ như một bảo ngọc xá lợi. Khi lễ trà tỳ chấm dứt, có hai dấu chân bước theo hướng Bắc về phía Tây Tạng được tìm thấy trong đám tro.
Ðức Pháp Chủ Karmapa XVÌI hiện nay đang sống lưu vong trong vùng núi tại Dharamsala, Ấn Ðộ.
Xuất Xứ
Cả hai bộ xá lợi đều do Wu Wen Yuen tặng cho sư phụ.
Papongka Rinpoche
Ngài là bổn sư của hai vị giáo thọ của đức Dạl Lai Lama 14.
Ngài dạy Bồ đề đạo thứ đệ luận để phát bồ đề tâm. Bồ đề tâm là sự phát tâm cầu giác ngộ để cứu khổ mọi loài chúng sanh. Ðây là giáo pháp cốt lõi của những người tu theo Phật giáo đại thừa.
Ribur Rinpoche nhắc đến sư phụ mình như sau:
Ngài không bao giờ nổi giận, mọi sự sân giận đều được cảm hóa bằng chính bồ đề tâm của Ngài. Nhiều khi có hàng dài người chờ để được Ngài ban phúc lành. Tuy nhiên, Rinpoche lại ôn tồn hòi thăm từng người rồi còn vổ nhẹ lên đầu họ nữa. Có đôi khi, lại cho họ các loại dược phẩm. ngài luôn luôn từ ái. Và tất cả những đặc tính này đã khiến Ngài trở thành vô cùng khác biệt, siêu việt.
Ngài từng khuyên càc đệ tử:
- Quí vĩ hãy cố thực hành để những điều tôi dạy không bị uổng phí. Nhưng trên hết, hãy lấy việc tập phát triển Bồ Ðề tâm làm sự thực tập chánh yếu. Quí vị cũng nên thiền quán về những chủ đề khác với mục đích giúp tăng trưởng bồ đề tâm của mình.
Xuất xứ
Nhục thân của Pabongka Rinpoche đã được nhập tháp ở Tây Tạng, nhưng tháp bị phá hủy khi Trung Cộng xâm chiếm. Ðệ tử của Ngài, Ribur Rinpoche, đã tìm được mảnh xương xá lợi này và sau đó tặng lại cho Lama Zopa.
Ðại sư Lama Thubten Yeshe
Viên ngọc xá lợi tuyệt đẹp này là của Lama Yeshe, bổn sư của Lama Zopa Rinpoche, đã cất giử từ khi Lama Yeshe viên tịch năm 1984.
Ðại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm
Ngài chuyên tu khổ hạnh. Nhiệm vụ của Ngài là đánh chuông thức chúng. Một hôm dậy trể, và từ đó Ngài nguyện suốt đời ngủ không nằm chạm lưng.
Năm 1933 lúc 42 tuổi, Ngài thọ cụ túc và năm sau, vào hang núi một mình để nhập thất mà không biết đó là hang cọp. Rồi Ngài làm bạn với chúng.
Xuất xứ
Hai viên xá lợi này do Ni sư Chwan Wen tặng năm 2001.
